Viện nghiên cứu Khoa học Quản lý giáo dục Về nghiên cứu khoa học giáo dục ở nước ta

Về nghiên cứu khoa học giáo dục ở nước ta

Sau 25 năm triển khai sự nghiệp đổi mới giáo dục và nhất là trong 10 năm thực hiện chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010, công tác nghiên cứu khoa học giáo dục ở nước ta bước đầu đã được quan tâm.

Để phục vụ cho sự nghiệp đổi mới giáo dục, đã có nhiều công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn theo các hướng:

1/ Lý giải và tuyên truyền cho chủ trương, đường lối, chính sách đổi mới của Đảng về phát triển giáo dục trong đó nhấn mạnh “giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển và giáo dục phải đi trước một bước”;

2/ Đổi mới tư duy về giáo dục, giúp bản thân ngành giáo dục và xã hội có những nhận thức mới về xây dựng nền giáo dục xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với bối cảnh hội nhập quốc tế và xu thế toàn cầu hóa;

3/ Luận giải lý luận và thực tiễn về bản chất, phương châm và chính sách của giáo dục trong nền kinh tế mới với sự đa dạng trong thống nhất, dân chủ, công bằng trong giáo dục;

4/ Giáo dục phục vụ con người, coi vốn con người là quý nhất và phục vụ xã hội với cách tiếp cận gắn giáo dục với phát triển kinh tế-xã hội, an ninh, quốc phòng;

5/ Giáo dục đào tạo ai ? “đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”;

6/ Giáo dục như thế nào ? Xây dựng mối quan hệ hữu cơ giữa nhà trường, gia đình và xã hội; sự nghiệp giáo dục là của Đảng, Nhà nước và toàn dân; xây dựng một nền giáo dục mở, dân tộc, tiên tiến, hiện đại, tiếp tục thực hiện nguyên lý “học đi đôi với hành”;

7/ Đa dạng hóa nguồn đầu tư cho giáo dục kết hợp với việc phân cấp quản lý triệt để theo hướng tăng quyền tự chủ, tính trách nhiệm xã hội cho các cơ sở giáo dục.

Kết quả nghiên cứu của khoa học giáo dục theo 7 hướng trên trong những năm qua dù chưa nhiều, chưa đủ tầm, nhưng cũng đã góp phần quan trọng cho sự phát triển giáo dục nước ta về quy mô, cơ cấu cũng như chất lượng trong toàn bộ các cấp, trình độ học. Bên cạnh những cái được của nghiên cứu khoa học giáo dục trong thời gian qua, song do nghiên cứu khoa học giáo dục ở nước ta trên thực tế cũng chưa được quan tâm đúng mức, ít cán bộ đầu ngành lại thiếu điều kiện nghiên cứu; dẫn đến những trì trệ, chưa đáp ứng được yêu cầu của tiến trình đổi mới giáo dục. Trước những cơ hội và thách thức chưa từng có như hiện nay của sự nghiệp phát triển giáo dục, nhất thiết những người nghiên cứu khoa học giáo dục cần nhận biết được khoa học nghiên cứu giáo dục ở nước ta hiện vẫn chưa phù hợp với yêu cầu phát triển của ngành và yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội, chưa đáp ứng được sự mong mỏi và kỳ vọng của nhân dân về một nền giáo dục tốt, một nền giáo dục chất lượng, một nền giáo dục then chốt, nơi sản sinh ra nguồn nhân lực chất lượng cao và những nhân tài cho đất nước.

Bước vào thập niên thứ 2 của thế kỷ XXI, giáo dục Việt Nam với cương vị là nền móng của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; là then chốt để tạo ra của cải và sức cạnh tranh cho đất nước trong xu thế toàn cầu hóa; là nền tảng của sự phát triển hưng thịnh của dân tộc, là bộ mặt tiến bộ xã hội và là công cụ cơ bản đào tạo con người Việt Nam toàn diện. Với chức năng và nhiệm vụ trọng đại nêu trên của giáo dục trong 10 năm tới, nhất thiết công tác nghiên cứu khoa học giáo dục cần được đầu tư và coi trọng ở một tầm cao hơn để có thể có đủ điều kiện nghiên cứu đáp ứng những đòi hỏi mới của ngành và của xã hội. Có thể nói năm thứ 20 của thế kỷ này, khi Việt Nam hoàn thành cơ bản sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vấn đề cạnh tranh nhân lực và nhất là nhân tài với khu vực và thế giới sẽ trở thành quyết liệt. Với dân số khoảng trăm triệu người, nước ta được xếp vào nước lớn về dân số, nước có tiềm năng về nguồn nhân lực trên thế giới. Do vậy nghiên cứu khoa học giáo dục ở nước ta ngay từ nay cần hướng đến những nghiên cứu để nước ta trở thành một nước có thế mạnh về tài nguyên con người với nguồn nhân lực chất lượng cao, một nước có nền giáo dục chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa và vừa ý dân với các tố chất công bằng, dân chủ, dân tộc, tiên tiến, hiện đại trong cạnh tranh, hội nhập khu vực, quốc tế. Với kỳ vọng này, những năm sắp đến phải chăng công tác nghiên cứu khoa học giáo dục ở nước ta cần lưu ý tới các hướng sau:

- Giáo dục con người toàn diện, lấy giáo dục công dân làm gốc, hướng đến con người Việt nam yêu nước, yêu dân tộc, yêu chủ nghĩa xã hội, bản lĩnh, sáng tạo, giàu tính nhân văn, có trách nhiệm với mình, với gia đình và cộng đồng; có năng lực thích ứng được với những biến đổi phức tạp trong tiến trình phát triển kinh tế-xã hội ở trong nước và trong hội nhập quốc tế với xu thế toàn cầu hóa. Tăng cường trách nhiệm giáo dục của gia đình và xã hội từ giáo dục mầm non đến giáo dục phổ thông và các bậc cao hơn; Xác định rõ hơn mục đích và trách nhiệm của nhà trường theo hướng xây dựng nhà trường hiệu quả, nhà trường tư duy và nhà trường sáng tạo.

- Kiên trì đường lối tiếp tục sự nghiệp đổi mới giáo dục của Đảng, giáo dục có hưng thịnh thì đất nước mới phồn vinh; giáo dục thực sự là quốc sách hàng đầu và đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển. Nhà nước cần coi nhà trường và thày cô giáo ở nước ta là động lực của tương lai, là nguồn cần đầu tư quan trọng nhất của đất nước.

- Dạy người, dạy chữ, dạy nghề. Vốn con người là vốn số một của phát triển kinh tế-xã hội; giáo dục là con đường duy nhất sản sinh, khai phá tài nguyên nhân lực. Lấy cá nhân người học làm trung tâm, giáo viên là chủ đạo; thày dạy không biết chán, trò học không biết mỏi; Trong tất cả các trường chuyển trọng tâm công việc dạy học từ dạy sang học, người học từ chỗ thụ động thu nhận tri thức và các kỹ năng thông thường chuyển đến chỗ tích cực, chủ động vận dụng tri thức học được để giải quyết vấn mọi vấn đề gặp phải; phát huy tính tự học, tự tìm tòi, khám phá, sáng tạo của người học; người học phải biết cách suy nghĩ độc lập trong môi trường học tập thoải mái, yên tâm, lành mạnh. Nâng cao năng lực hướng nghiệp cho học sinh. Tạo dựng những con người có hoài bão lớn, thể chất lành mạnh, sức sáng tạo phong phú và giám chịu trách nhiệm trước bản thân và trước cộng đồng và trước xã hội.

- Dân chủ, công bằng trong giáo dục là chính sách quan trọng để phát triển giáo dục. Dân chủ, công bằng giáo dục là thành tố quan trọng của công bằng xã hội. Nâng cao năng lực cạnh tranh của người học. Thiết lập sự đối thoại giữa các thế hệ trên cơ sở tiếp nối, kế thừa truyền thống giáo dục tốt đẹp và giáo dục hướng đến tương lai.

- Nâng cao chất lượng giáo dục là nhiệm vụ sống còn của phát triển giáo dục; xây dựng nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa trên cơ sở các thành tố đậm đà bản sắc dân tộc, tiên tiến và hiện đại. Nhà nước vừa nâng cao chất lượng giáo dục trong các trường, lại vừa làm cho xã hội tạo nhiều cơ hội việc làm cho người ra trường. Đặc biệt với học sinh sau tốt nghiệp trung học. Thu hút học sinh, sinh viên vào các hoạt động của Nhà nước, của xã hội và của cộng đồng.

- Hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng mỗi người được tiếp nhận một hệ thống giáo dục và học tập suốt đời, thỏa mãn những nhu cầu khác nhau ở những giai đoạn khác nhau của mỗi con người; thỏa mãn nguyện vọng học tập cái mới, nâng cao năng lực và trí thông minh, kỹ năng học tập và tạo dựng năng lực lập nghiệp; hoàn thiện mối quan hệ giữa giáo dục gia đình, giáo dục nhà trường, giáo dục xã hội và cơ hội học tập.

- Tăng đầu tư toàn diện cho các trường sư phạm, các viện, học viện nghiên cứu giáo dục để nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên, chất lượng cán bộ nghiên cứu; thực sự coi hệ thống sư phạm và viện nghiên cứu giáo dục là hệ thống “máy cái” của hệ thống giáo dục quốc dân. Hệ thống sư phạm mạnh, viện nghiên cứu giáo dục mạnh mới có nguồn giáo viên và cán bộ nghiên cứu giáo dục tốt. Coi trọng đào tạo “chuyên gia giáo dục” trẻ. Tạo dựng hệ thống nghiên cứu khoa học giáo dục đa dạng trong thế tiến tới hội nhập và cạnh tranh quốc tế. Trường đại học sư phạm và các cơ sở nghiên cứu giáo dục là nơi nghiên cứu khoa học giáo dục lý tưởng nhất; cần nhìn nhận một cách khách quan, những nơi này thực sự là nền tảng của hệ thống nghiên cứu khoa học giáo dục, nơi sản sinh và bồi dưỡng những nhân tài khoa học giáo dục kế cận. Sẽ không hình dung nổi nếu như sự phát triển giáo dục ở nước ta mà không có nghiên cứu khoa học giáo dục làm nền tảng, không có chuyển hóa nội dung giáo dục mới, phương pháp dạy và học mới đến nhà trường, đến đội ngũ giáo viên và từng học sinh, sinh viên.

- Hoàn thiện hệ thống nghiên cứu khoa học, trước hết là khoa học giáo dục theo hướng kết hợp giữa nhà nước, nhà trường (viện nghiên cứu) và các tổ chức kinh tế-xã hội (doanh nghiệp, địa phương...). Quan tâm hơn đến nghiên cứu cơ bản trong giáo dục; tăng kinh phí đủ để nghiên cứu và có thiết chế quản lý tài chính nghiên cứu khoa học phù hợp.

- Triệt để phân quyền giáo dục cho địa phương và các cơ sở giáo dục; Phân định rõ quản lý nhà nước và quản lý của cơ sở về giáo dục. Tạo dựng nhà trường được nhân dân và xã hội tin cậy.

- Thích ứng quốc tế hóa giáo dục trong hội nhập quốc tế và xu thế toàn cầu hóa. Tuy nhiên không học kinh nghiệm giáo dục của nước ngoài theo kiểu giáo điều, chắp vá, vì bản thân tất cả các nước này hiện nay cũng đang tìm đường ra cho cho phát triển giáo dục của chính nước mình. Tăng cường mở rộng giao lưu học thuật quốc tế về giáo dục.

Giáo dục nước ta luôn có truyền thống tôn sư trọng đạo, luôn nâng cao tố chất, năng lực giáo viên và chăm lo cho người học; đảm bảo thời gian học tập cho người học một cách hữu hiệu và hài hòa ở trong cũng như ngoài trường. Bước vào 10 năm tới những nghiên cứu giáo dục phải là những gợi mở để sự nghiệp phát triển giáo dục ở nước ta thích ứng tốt hơn với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; thích ứng tốt hơn với nền kinh tế tri thức trong hội nhập, cạnh tranh quốc tế và xu thế toàn cầu hóa. Khoa học nghiên cứu giáo dục trong đổi mới tiếp tục đạt tới sự cân đối giữa trí, đức, thể, mỹ giúp cho thầy và trò luôn có bản lĩnh sáng tạo và được dạy và học trong môi trường lành mạnh của sự nghiệp phát triển giáo dục hài hòa và bền vững. Tóm lại, để khái quát hóa những trình bầy ở trên, nghiên cứu khoa học giáo dục trong thời gian tới cần trả lời được các câu hỏi về phát triển giáo dục ở nước ta là: 1/ Nhà nước cần gì ?, xã hội cần gì ? và người học muốn gì ?. Phải chăng để có câu trả lời có thể định hướng nghiên cứu giáo dục theo 5 vấn đề: 1/ Con người giáo dục; 2/ Hệ thống giáo dục; 3/ Hạ tầng giáo dục; 4/ Thể chế, chính sách giáo dục; 5/ Khoa học giáo dục. Hy vọng đến năm 2020, nước ta sẽ có một nền giáo dục chất lượng cao “học suốt đời trong xã hội học tập” với bản sắc dân tộc, tiên tiến, hiện đại để thay thế nền giáo dục phần nào còn mang tính hình thức “bằng cấp” hiện nay.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010. NXB Giáo dục, Hà Nội năm 2002

2.Tìm hiểu Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục (năm 2009). NXB Thống Kê, Hà Nội tháng 1 năm 2010

 

Các nội dung khác